CẦU TRƯỜNG TIỀN - NÉT THƠ XỨ HUẾ - NGUYỄN VĂN LIÊM. Dẫu trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, dẫu có nhiều đổi thay thì cầu Trường Tiền vẫn soi bóng trên dòng Hương Giang hơn một trăm năm qua, cầu Trường Tiền vẫn là một biểu tượng đẹp lãng mạn của đất cố đô Nhớ sao chiếc nón bài thơ Nhớ câu hò Huế mong chờ thiết tha Mỗi lần ngắm trăng tà trên phố Mỗi lần nghe chuông đổ chùa xa Lòng thầm ta lại hỏi ta Nhớ thương Huế đó , còn là nhớ ai Câu hò Huế sao dài đằm thắm Như nỗi niềm gửi gắm thủy chung Ta yêu xứ Huế vô cùng Một đời nặng nghĩa xin đừng quên nhau. Thơ Viết Về Huế Với Từ Ngữ Địa Phương #06 Người thợ làm nón sử dụng khung chằm hình chóp, còn gọi là chiếc Mô với kích thước bằng chiếc nón lá. Trước những năm 80, Mô làm nón là thường có 15 vành và sau này thì thị hiếu người Nam Bộ thay đổi, họ ưa chuộng nón lá 16 vành còn được gọi là nón bài thơ xứ Huế. Nghề làm nón lá đã xuất hiện ở Huế hàng trăm năm nay với nhiều làng nón như Dạ Lê, Phú Cam, Đốc Sơ, Triều Tây, Kim Long, Sịa Trong đó Tây Hồ là cái tên nổi bật nhất bởi đây chính là nơi xuất xứ của chiếc nón bài thơ nổi tiếng. Làng nón Tây Hồ tọa lạc bên bờ sông Như Ý, xã Phú Hồ, huyện Phú Vang CHIẾC NÓN BÀI THƠ XỨ HUẾ in HUẾ TRONG TÔI on 19:47 No Comments Ở Huế, mỗi chiếc nón bài thơ có thể ví như một tác phẩm nghệ thuật mang đậm nét riêng, phong cách riêng của văn hóa Huế. Thế nhưng nghề làm nón bài thơ hiện nay lại đang phải đứng trước nỗi lo thất truyền. Rồi nếu nón, đặc biệt là 'nón bài thơ' xứ Huế, nơi làm nón như làng Đồng Di, xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, Huế được ghi nhận là nón đẹp nổi tiếng và vẫn lưu hành tới hôm nay, thì về quạt, từ thuở xa xưa gần như phân nửa làng Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Hà Khác với những chiếc nón bài thơ xứ Huế quen thuộc, gần đây, người dân có dịp chiêm ngưỡng và sử dụng chiếc nón lá trong suốt rất độc đáo. Để làm nên chiếc nón lá trong suốt cần một nguyên liệu khá đặc biệt đó là 13 - 15 chiếc lá bàng rừng. Nón bài thơ e lệ trong tay Thầm bước lặng, những khi trời dịu nắng" Ai đã từng qua miền Trung nắng lửa không thể không biết đến nón bài thơ xứ Huế. Chiếc nón lá ấy đã trở thành biểu tượng văn hóa của một vùng đất nhiều truyền thống. Và cũng từ lâu, chiếc nón lá trở thành biểu tượng cho người phụ nữ Việt Nam. Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd. Chiếc nón bài thơ Huế từ lâu đã gắn liền với cuộc sống của người dân cố đô. Đây không chỉ là thành phẩm của các làng nghề truyền thống mà còn gắn bó với nếp sinh hoạt, vẻ đẹp của phụ nữ Huế nói riêng và phụ nữ Việt nói chung. Du lịch Huế nên lựa chọn những chiếc nón bài thơ làm quà cho các mẹ, các chị. 1. Nguồn gốc nón bài thơ Huế Nón bài thơ Huế có nguồn gốc từ làng Tây Hồ, thuộc địa phận xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, Thừa Thiên – Huế. Nghề nón đã xuất hiện ở ngôi làng này từ hàng trăm năm trước. Sự ra đời của những chiếc nón bài thơ được xem là một sự tình cờ. Từ khoảng năm 1960, nghệ nhân nón lá ông Bùi Quang Bặc có ý tưởng làm những chiếc nón lá bằng cách ép những câu thơ trên hai lớp lá với mong muốn làm cho chiếc nón được đẹp hơn. Từ đó, làng nghề lưu giữ cách làm nón công phu, tỉ mỉ và không quên những bài thơ về non sông, đất nước trên chiếc nón lá. Chiếc nón lá bài thơ Huế xuất hiện nhiều hơn trên thị trường, trở thành một biểu tượng của người phụ nữ Huế và là sản phẩm truyền thống được lưu giữ nhiều năm ở mảnh đất cố đô. 2. Tại sao nón lá Huế được gọi là “nón bài thơ” Nón bài thơ xứ Huế là một loại nón đặc biệt, gắn liền với người phụ nữ xứ Huế. Tên gọi được bắt nguồn từ đặc điểm của nón, tức là khi soi trên ánh sáng thì có thể thấy bài thơ, hoa văn được tạo nên vô cùng tinh tế, khéo léo. Đặc trưng của sản phẩm này đó là hình dáng nón rất mềm mại, thanh tao. Nón có màu trắng sáng của lá kèm theo nhiều màu sắc rực rỡ khác của các loại hoa văn. Đây giống như một tác phẩm nghệ thuật mà chỉ khi đến Huế, bạn mới có thể cầm trên tay chiếc nón lá đặc biệt này. 3. Nón bài thơ Huế - Nét đẹp thi vị gắn liền với người con gái Nón bài thơ Huế là một trong những món đồ lưu niệm được nhiều du khách tìm mua khi đến với mảnh đất cố đô. Để làm nên nét đặc biệt của chiếc nón, các nghệ nhân đã khéo léo ép nên bức tranh của núi Ngự, sông Hương trên từng chiếc nón. Hình ảnh người con gái xứ Huế dịu dàng, đoan trang với chiếc nón bài thơ trên tay đã trở thành vẻ đẹp rất riêng của Huế. Nhắc đến nón bài thơ, người ta nghĩ ngay đến thành phố Huế thơ mộng và cả những cô gái thướt tha trong tà áo dài truyền thống của Việt Nam. Đây cũng là lý do mà khi du lịch Huế 2 ngày 1 đêm hay du lịch Huế 3 ngày 2 đêm, du khách trong nước hay nước ngoài đều muốn mua những chiếc nón bài thơ xứ Huế làm quà lưu niệm cho bạn bè, người thân. Ngoài ra, hoạt động chụp ảnh cùng tà áo dài thướt tha và chiếc nón lá nghiêng nghiêng trong nắng cũng rất được lòng khách du lịch bốn phương. >>> Check-in 34 địa điểm du lịch Huế thương hấp dẫn nhất cùng chiếc nón lá Huế mộng mơ. 4. Cách làm nón bài thơ Huế - hội tụ tinh hoa của người nghệ nhân Tại Huế hiện nay có khá nhiều làng nghề sản xuất nón lá, điển hình như làng Tây Hồ, làng La Ỷ, làng Đồng Di, làng Nam Phổ, làng Phủ Cam,… Một chiếc nón bài thơ Huế trông khá đơn giản, thanh mảnh, tuy nhiên để làm ra một sản phẩm như vậy không hề đơn giản một chút nào. Để làm được chiếc nón này, bạn cần thực hiện 3 công đoạn chính là Tạo khung và vành nón Công việc này đòi hỏi nhiều kinh nghiệm, sự tỉ mỉ và khéo tay. Khung được tạo nên từ 12 thanh gỗ vát mảnh, chụm lại ở phần đỉnh, phía dưới tản ra đều. Vành nón làm từ phần thân của cây lồ ô. Xử lý lá nón Lá nón sau khi được hái từ rừng về, được chọn lọc và đem đi sấy. Phần lá đảm bảo để làm nên chiếc nón bài thơ Huế phải chín đều, giữ được sắc xanh nhẹ, có độ khô vừa. Sau đó người nghệ nhân sẽ tiến hành hình thành nên các hoa văn, bài thơ lên toàn bộ diện tích nón. Khâu nón Khâu từ trên đỉnh xuống đến phần vành, cứ 1cm sẽ được khâu 3 mũi cước trong suốt. Vành cuối cùng được sử dụng cước trắng, các mũi kim cách nhau 2cm. 5. Mua nón bài thơ ở Huế Khi đi du lịch đến với xứ Huế mộng mơ, du khách có thể đến các làng nghề làm nón lá để mua trực tiếp từ các nghệ nhân với mức giá rẻ nhất. Bên cạnh đó, nón bài thơ Huế cũng được bán nhiều tại các khu chợ dân sinh như chợ Nón, chợ Đông Ba,… Vì vậy, du khách có thể mua sản phẩm truyền thống này về làm quà sau chuyến du lịch của mình. >>>Xem thêm 28 đặc sản Huế nổi bật nhất, hương vị đặc biệt, cách chế biến độc đáo, mang đậm nét tinh hoa ẩm thực cố đô. Để có những bộ ảnh tuyệt đẹp tại xứ Huế cùng chiếc nón bài thơ đặc trưng, du khách có thể lựa chọn trang phục và đến các điểm du lịch nổi tiếng như Đại Nội Huế, chùa Thiên Mụ, cung An Định,… Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tham khảo lưu trú tại Melia Vinpearl Hue - đây là khách sạn tọa lạc ở vị trí trung tâm, thuận tiện di chuyển và kết nối lịch trình với các địa điểm du lịch Huế nổi tiếng. >>> Đặt phòng Melia Vinpearl Hue ngay TẠI ĐÂY để nhận được nhiều ưu đãi hấp dẫn. Nón bài thơ Huế gắn liền với hình ảnh nhẹ nhàng, phúc hậu của người con gái Huế nói riêng và phụ nữ Việt Nam nói chung. Chụp ảnh trong tà áo dài với chiếc nón bài thơ chắc chắn sẽ là kỷ niệm khó quên tại các điểm du lịch cố đô. Bên cạnh đó, nếu bạn đang tìm kiếm một món quà lưu niệm sau chuyến du lịch của mình thì đây thật sự là một lựa chọn tuyệt vời. >>> Lựa chọn lưu trú tại Melia Vinpearl Hue để có nhiều trải nghiệm du lịch thú vị, hấp dẫn. “Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễTà áo dài trắng nhẹ nhàng bayNón bài thơ e lệ trong tayThầm bước lặng, những khi trời dịu nắng”Từ lâu nón bài thơ đã trở thành một trong những nét đẹp đặc trưng của văn hóa Huế. Với người dân xứ Huế, nón lá bài thơ không chỉ là vật dụng để che nắng, che mưa, mà hơn thế nó đã trở thành một biểu tượng riêng và gắn liền với hình ảnh người con gái Huế dịu dàng e ấp. Hãy cùng Huế Smile Travel điểm qua đôi nét về chiếc nón bài thơ Huế nhé!Đôi nét về chiếc “Nón lá bài thơ” Khi đến với mảnh đất cố đô này, điều mà bạn dễ dàng bắt gặp được đó chính là hình ảnh của những chiếc nón bài thơ. Theo như Huế Smile Travel được biết, để làm nổi bật và khiến cho những chiếc nón lá bài thơ xứ huế trở nên đặc biệt hơn, các nghệ nhân đã ép những bức tranh của sông Hương, núi Ngự vào trong từng chiếc nón, không những thế một số nghệ nhân còn đưa hẳn thơ ca vào giữa hai lớp có ai từng thắc mắc rằng tại sao lại gọi là “nón bài thơ”, mà không gọi là “nón lá” như thông thường không? Thực ra tên gọi của nó bắt nguồn từ chính đặc điểm nổi bật mà nó mang lại. Nếu để ý các bạn có thể thấy khi soi lên ánh sáng thì bạn có thể thấy một bài thơ hay hình ảnh hoa văn được tạo nên khéo léo, bố cục cân đối hiện lên giữa hai lớp lá THÊM Điện Hòn Chén – Di tích ẩn chứa nhiều giai thoại kỳ bíNghề nón ở Huế có nhiều điều thật lạ, không có ông tổ nghề nhưng người làm nghề có ở khắp nơi. Huế cũng có những làng nghề nón nổi tiếng như làng Đồng Di – Tây Hồ – La Ỷ – Nam Phổ huyện Phú Vang – Phủ Cam – Đốc Sơ thành phố Huế. Mỗi làng lại chuyên về một loại nón. Làm nón 3 lớp đẹp thì có La Ỷ, Nam Phổ, Đốc Sơ; làm nón lá bài thơ nổi tiếng thì có Đồng Di – Tây Hồ – Phủ Cam. Trong cấu tạo hình dáng và độ thanh mảnh thì nón Huế có những điểm khác biệt so với nón ở các vùng miền khác. Cho nên, dẫu đều là nón lá nhưng với những đặc điểm riêng của mình, dù đặt ở đâu nón Huế cũng được nhận ra những chiếc nón có vẻ nhỏ gọn, thế nhưng công đoạn làm ra nó thật sự không hề đơn giản chút nào. Nón được làm hoàn bằng đôi bàn tay khéo léo của con người, để ra được một chiếc nón người làm phải thực hiện đúng 15 công đoạn từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ,… Nguyên liệu của chiếc nón là lá non của cây Bồ Quy Diệp sau khi hái trên rừng đem về phơi sương rồi nức vàng và ủi cho phẳng. Sau đó, người làm phải khâu tạo khung và vành nón. Đây là công việc đòi hỏi người thợ có nhiều kinh nghiệm, cẩn thận và khéo tay. Khung của nón lá sẽ bao gồm 12 thanh gỗ vát mảnh được ghép lại, khớp nhau ở đỉnh, phía dưới khoảng cách đều nhau. 16 vành như 16 vầng trăng được ve thật nhanh, thật tròn, thật nhẵn, thật điệu, sao cho cân đối và hài hòa bài thơ – Nét đẹp đặc trưng, niềm tự hào của người dân xứ HuếNón bài thơ không chỉ là nét đặc trưng cho văn hóa Huế, mà còn là nguồn cảm hứng cho những văn nghệ sĩ sáng tán nên những bài thơ về nón lá “Áo trắng hỡi thửa tìm em chẳng thấyNắng mênh mang mấy nhịp Trường TiềnNón rất Huế nhưng đời không phải thếMặt trời lên từ phía nón em nghiêng”Hình ảnh cô gái Huế với chiếc nón lá bài thơ, khi che trên đầu, khi cầm trên tay, khi nghiêng nghiêng e thẹn đã tạo nên một vẻ đẹp rất Huế. Đã từ rất lâu rồi, khi nghe nhắc đến nón bài thơ, người ta liền nghĩ ngay đến Huế. Trong chiếc nón bài thơ Huế có biểu hiện những nét đẹp của cả một vùng văn nón bài thơ thanh mảnh, cầm trên tay nhẹ tênh, từ đường kim, cho đến vành nón tất cả đều thanh tao, nhỏ mà sắc nét. Nếu chỉ như vậy thì nón bài thơ cũng chưa có gì đặc biệt, làm sao để thổi được cái hồn Huế vào trong chiếc nón, vật dụng hàng ngày của người phụ nữ Huế. Và những câu thơ trên nón lá là một cách sáng tạo của người thợ làm nón ở Huế. Những câu thơ không phải đề bằng mực mà được cắt từ giấy, khéo léo ẩn dấu giữa hai lớp lá xanh, phải đưa nón lên dưới ánh mặt trời mới đọc được. Tâm tình của người Huế luôn kín đáo như vậy đấy. Có tình thôi chưa đủ mà phải có sự kiên trì, thử thách mới giải đáp được tâm hồn người con gái Huế. Và đó chính là điều bí mật của nón bài thơ xứ Huế. Dù chỉ là một chiếc nón bài thơ bé nhỏ nhưng người Huế cũng gửi vào đó một triết lý, một quan niệm sống sâu cảnh Huế mộng mơ, những con đường im mát, những cô gái Huế trong tà áo dài tha thướt đội nón lá bài thơ đã trở thành một trong những hình ảnh đẹp tượng trưng của Huế. Hình ảnh ấy đã tác động đến đời sống nghệ thuật của mảnh đất này. Nếu có dịp đến đây đừng quên mua ít chiếc nón lá bài thơ xứ huế để làm quà, đừng quên ghé thăm những ngôi làng có truyền thống làm nón. Để cảm nhận hết vẻ đẹp văn hóa của xứ Huế, của đất cố THÊM Lễ Vu Lan trên đất Cố ĐôDạ xin chào,Chúng em là Hue Smile Travel – Du Lịch Nụ Cười HuếSứ mệnh của chúng em là mang lại niềm vui và hạnh phúc cho quý Cô Chú, Anh Chị và các Bạn qua mỗi chuyến du lịch; chúng em tin rằng ” chất lượng là nguồn sống, uy tín là hơi thở” sẽ giúp chúng em hoàn thành sứ mệnh và kết nối thêm nhiều chuyến du lịch ý nghĩa cùng quý Cô Chú, Anh Chị và các Bạn. Ngày đăng 30/07/2014, 1721 Huế - Làng nón bài thơ Tây Hồ Khi nhắc đến hình ảnh o gái Huế, mọi người đều không quên tà áo dài tím thướt tha sánh cùng chiếc nón lá trắng xinh, che nghiêng trong nắng. Nơi ấy, chứa đựng cả một dáng hình đất nước, dù đi xa ai cũng gắng quay về. Vì thế, trong nhiều địa danh đẹp và thơ của Huế, người đến du ngoạn nơi đây cũng không quên ghé thăm làng nón Bài thơ Tây Hồ, để tận mắt nhìn thấy những chiếc nón duyên dáng đã được ra đời từ bàn tay khéo léo của con người đất cố đô như thế nào. Làng Tây Hồ nằm bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Không biết tự bao giờ, làng đã bắt đầu nghề làm nón bài thơ. Người ta chỉ biết rằng trải qua bao sự thăng trầm lịch sử làm nón vẫn là cái nghề, là nghiệp phải noi theo của bao thế hệ người làng Tây Hồ. Nguyên liệu để làm nên một chiếc nón bài thơ xứ Huế rất đơn giản, chỉ bằng lá dừa và lá gồi. Để có một chiếc nón bài thơ vừa nhẹ vừa đẹp, người ta phải thực hiện khoảng 15 công đoạn từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ Để có được lá đẹp, người ta thường lên rừng chọn loại lá non của cây Bồ Qui Diệp có màu xanh nhẹ, sau đó đem phơi sương qua đêm để lá dịu lại. Tiếp theo, người ta ủi lá cho phẳng, chuẩn bị khung để chằm nón. Khung này bao gồm 6 cây sườn chính, dựa trên đó người ta bố trí 16 nan tre được vót nhỏ uốn quanh khung hình chóp nón. Khi làm nón bài thơ, người ta chỉ làm 2 lớp lá, ở giữa là những thắng cảnh và các câu thơ hay. Để bền hơn người ta lót thêm một lớp lá đót. Cuối cùng là cắt phần lá thừa, làm quai và phết một lớp mỏng sơn dầu để chống thấm. Chiếc nón bài thơ xứ Huế tuy đơn giản nhưng mang trong nó là một tấm lòng, một tình yêu quê hương đất nước, nhẹ nhàng đi vào thơ ca “Áo trắng hỡi thuở tìm em chẳng thấy Nắng mênh mang mấy nhịp Trường Tiền Nón rất Huế nhưng đời không phải thế Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng” Hình ảnh o gái nhỏ xinh trong tà áo dài mang sắc tím, trên đầu là chiếc nón bài thơ, dịu dàng trên đường phố Huế đã để lại biết bao xúc cảm cho người đến với mảnh đất cố đô này. Đến đây, bạn không chỉ tận hưởng được không khí cổ kính của những thành quách lầu đài, thưởng thức những món ngon mà còn cảm nhận một tâm hồn Huế chứa đựng trong từng chiếc nón bài thơ hòa cùng câu hò bên bờ Hương giang thơ mộng. - Làng nón lá Phủ cam Làng Phú Cam còn được gọi là phường Phước Vĩnh, ngay ở trung tâm thành phố Huế, trên bờ nam sông An Cựu. Nón Huế, nón Phú Cam đã xinh ở dáng lại nhã ở màu, mỏng nhẹ như thấu quang, soi lên ánh sáng thấy rõ những hình trổ giấy về phong cảnh Huế kèm theo lời thơ được cài ở hai lớp lá. Dáng nón trước hết phụ thuộc vào khung nón. Cả làng nón Phú Cam chỉ có một gia đình bác Tân nối đời làm khung nón, giữ kỹ thuật tạo dáng mái, khoảng cách giữa các vành và độ tròn của vành như một thứ gia bảo cha truyền con nối, theo một thẩm mỹ dân gian "hay mắt" mà thật ra là cả một tỷ lệ toán học đã được nhiều đời và nhiều vùng kiểm nghiệm "thuận mắt ta ra mắt người". Sau khung là lá nón, phải chọn lá vừa tuổi để chỉ 8-9 lá đủ chằm một cái nón, lại tránh được sự thô nặng phải dùng nhiều lá nón, hoặc lá già đầy có lá đúng tuổi còn phải xử lý qua một quy trình công nghệ sấy ủi phức tạp. Cả làng chỉ có bốn gia đình thạo kỹ thuật mở lò sấy thủ công. Khi lò đỏ lửa, lá phải được đảo liên tục cho đến lúc đủ xanh và chín tới từng gân lá, thì chuyển sang đệm om trong độ ấm của lò. Nón Huế duyên dáng còn do bộ xương 16 cái vành lớn nhỏ khác nhau. Các cụ ông đảm nhiệm khâu chuốt vành rồi lên khung nón, còn cụ bà thì nhận phần nức vành và ủy lá, các cháu gái làm khâu cuối cùng là chằm. Với cây mác sắc các cụ chuốt từng sợi tre nan vành đều đặn, tròn trặn và bóng bảy. Những nan vòng được uốn thành vòng thật tròn, với hai đầu tre được liền với nhau bằng sợi chỉ khéo léo. Với tay kim chằm, các cháu gái khâu thêm nón một cách tỷ mỷ những sợi chỉ cước trong suốt gắn những tấm lá trắng xanh được sắp xếp đều đặn vào bộ vành. Ở Huế ngay cả quai nón cũng là một nghệ thuật, có khi là dải gấm đen tuyền, nhưng thường là dải lụa trắng bạch hay các màu nhẹ như vàng mỡ gà, hồng ráng chiều, xanh ánh trăng, biếc liễu non, tím e ấp Mầu sắc ấy cũng lại hợp với cái nắng mưa đa tình ở xứ Huế. Có thể nói, nón bài thơ là sản phẩm đặc trưng nổi tiếng ở riêng Huế. Nó không chỉ đơn thuần là vật đội đầu để che mưa che nắng mà còn là vật để làm duyên, trang điểm thêm cho vẻ đẹp dịu dàng, đáng yêu của những cô gái Huế. Vì thế chiếc nón Huế đã đi vào nhạc, vào thơ, vào những bức tranh, bức ảnh. Những văn nghệ sỹ đến, làm nên tác phẩm rồi đi mà vẫn hẹn lòng quay lại bởi niềm hứng khởi trước những vẻ đẹp duyên dáng dịu dàng của người con gái Huế cùng mảnh đất Huế thân yêu. - Làng rèn Hiền lương Hiền Lương là một làng cổ hình thành từ giữa thế kỷ XV, dưới thời Hậu Lê, nay thuộc xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, ở bờ Bắc trung lưu sông Bồ. Nơi đây dân làng vốn thành thạo nghề rèn truyền thống, một nghề quan trọng chuyên sản xuất các loại nông cụ rèn từ sắt như cày, cuốc, liễn, hái, dao, rựa, phăng, mỏ xay… Ngược về quá khứ, ngoài nghề rèn nông cụ, vào cuối thời chúa Nguyễn bước qua thời Tây Sơn và triều Nguyễn, với tay nghề rèn khéo léo, các dân đinh làng thường được tuyển mộ, trưng tập vào Dã Tượng cuộc một tổ chức thợ rèn nhà nước chuyên chế tác vũ khí, vật dụng của phủ chúa, vương triều. Một số người xuất sắc đã trở thành những vị quan quản lý, đốc công ở tổ chức này hay ở sở vũ khố của bộ Công sở sản xuất binh khí và vật dụng như các ông Hoàng Văn Gia, Hoàng Văn Cẩn, Hoàng Văn Lịch. Đặc biệt ông Hoàng Văn Lịch, giữ chức Đốc công sở vũ khí tại Kinh thành Huế, vào năm 1838 đã tổ chức đóng thành công chiếc tàu thủy với cỗ máy hơi nước tái tạo từ bộ máy và chiếc tàu thủy mua của Tây phương đã bị hỏng. Hai năm sau, lại đóng thành công 2 chiếc tàu thủy lớn hơn, được vua Minh Mạng ban thưởng. Điều đó khẳng định tay nghề xuất sắc của các hiệp thợ rèn Hiền Lương, và hướng phát triển mới của nghề này. Do nhu cầu phát triển nghề nghiệp, cư dân làng tỏa đi sinh sống, làm nghề khắp các làng xã ở Thừa Thiên Huế, và đặc biệt là khắp các thị xã, thị trấn từ Quảng Trị vào Nam. Một số ít vẫn giữ nghề rèn nông cụ, và đa số đã mở rộng, chuyển đổi nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu mới của xã hội, như các nghề cơ khí, sửa chữa ô tô, nghề kim khí như làm đinh, khóa, lề, làm cửa sắt, cửa nhôm…Ngay tại Huế, cư dân làng còn tập trung thành một xóm nghề rèn, nghề sắt tại làng Bao Vinh, xã Hương Vinh. Dẫu lập nghiệp nơi đâu, hằng năm vào ngày 18 tháng 2 âm lịch, dân nghề rèn Hiền Lương vẫn trở về, nô nức tập trung làm lễ tế tổ sư và tiên sư của nghề tại làng cũ. . Huế - Làng nón bài thơ Tây Hồ Khi nhắc đến hình ảnh o gái Huế, mọi người đều không quên tà áo dài tím thướt tha sánh cùng chiếc nón lá trắng xinh, che nghiêng. đất cố đô như thế nào. Làng Tây Hồ nằm bên dòng sông Như Ý, thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Không biết tự bao giờ, làng đã bắt đầu nghề làm nón bài thơ. Người ta chỉ biết. những món ngon mà còn cảm nhận một tâm hồn Huế chứa đựng trong từng chiếc nón bài thơ hòa cùng câu hò bên bờ Hương giang thơ mộng. - Làng nón lá Phủ cam Làng Phú Cam còn được gọi là phường - Xem thêm -Xem thêm làng nghề truyền thống Huế - Làng nón bài thơ Tây Hồ potx, làng nghề truyền thống Huế - Làng nón bài thơ Tây Hồ potx, Ảnh Nguyễn Phúc Bảo Minh Nguồn gốc nón lá Huế Nằm bên dòng sông Như Ý, làng Tây Hồ thuộc xã Phú Hồ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế khoảng 12 km về hướng Đông Nam từ lâu đã nổi tiếng với nghề chằm nón lá truyền thống. Nghề chằm nón lá đã hình thành cách đây hàng trăm năm và nón bài thơ – một nét đặc trưng của Huế cũng xuất phát từ làng nón Tây Hồ vùng đất đã từng nổi danh có nhiều cô gái xinh đẹp, làm say đắm biết bao chàng trai trong vùng. Ở Tây Hồ không chỉ phụ nữ biết chằm nón mà ngay cả những người đàn ông cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón. Không biết tự bao giờ, làng đã bắt đầu nghề làm nón bài thơ. Người ta chỉ biết rằng trải qua bao sự thăng trầm lịch sử làm nón vẫn là cái nghề, là nghiệp phải noi theo của bao thế hệ người làng Tây Hồ. Ban đầu, nón bài thơ chủ yếu được làm để tặng người thân. Thế nhưng, nón lại được nhiều du khách yêu thích nên được làm với số lượng nhiều và bán ra thị trường. Từ đây, những câu thơ được ép vào nón cũng đa dạng hơn, phong phú hơn nhưng cũng không ngoài những câu thơ ca ngợi về cảnh đẹp và con người xứ Huế. Lúc này, để làm đẹp thêm cho chiếc nón, những người thợ làm nghề còn ép vào đó cả tranh về sông Hương, núi Ngự cạnh bài thơ. Đến nay, chiếc nón bài thơ không còn là một sản phẩm bình thường mà đã trở thành nét đặc trưng của xứ Huế. Nguyên liệu để làm nên một chiếc nón bài thơ xứ Huế rất đơn giản, chỉ bằng lá dừa và lá gồi. Để có một chiếc nón bài thơ vừa nhẹ vừa đẹp, người ta phải thực hiện khoảng 15 công đoạn từ lên rừng hái lá, rồi sấy lá, mở, ủi, chọn lá, xây độn vành, chằm, cắt lá, nức vành, cắt chỉ… Để có được lá đẹp, người ta thường lên rừng chọn loại lá non của cây Bồ Qui Diệp có màu xanh nhẹ, sau đó đem phơi sương qua đêm để lá dịu lại. Tiếp theo, người ta phải nức vàng và ủi lá cho phẳng. Để có được lá đẹp, lá làm nón phải giữ được màu xanh nhẹ, người ta ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Sau đó, người thợ chuẩn bị khung để chằm nón. Khung này bao gồm 6 cây sườn chính, dựa trên đó người ta bố trí 16 nan tre được vót nhỏ uốn quanh khung hình chóp nón. Khi làm nón bài thơ, người ta chỉ làm 2 lớp lá, ở giữa là những thắng cảnh và các câu thơ hay. Khi xây và lợp lá, người thợ phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Khi nón chằm hoàn tất, người ta đính thêm vào chóp nón một cái “xoài” được làm bằng chỉ bóng láng để làm duyên, sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để nón vừa đẹp vừa bền. Từ Tây Hồ, những chiếc nón bài thơ toả đi khắp nẻo đường và trở nên gần gũi, thân quen trong cuộc sống thường nhật của mỗi phụ nữ Huế. Chỉ với nguyên liệu đơn giản của lá dừa, lá gồi, những chiếc nón bài thơ vẫn trở thành vật “trang sức” của biết bao thiếu nữ. Với nhiều người, lựa nón, lựa quai cũng là một thú vui nên không ít người đã kỳ công đến tận nơi làm nón để đặt cho riêng mình với dòng thơ yêu thích. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong cái nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề. Những gương mặt trẻ trung ẩn hiện sau vành nón sáng lấp loá đã trở thành một ấn tượng rất Huế, rất Việt Nam. Các loại nón lá Huế Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Nón lá không xa lạ với chúng ta, ngày nay ở hải ngoại chỉ thấy nón lá xuất hiện trên sân khấu, trình diễn nghệ thuật múa nón và áo dài duyên dáng mền mại kín đáo của thiếu nữ Việt Nam nổi bật bản sắc văn hoá dân tộc, áo dài và nón lá là nét đặc thù của đàn bà Việt Nam, chắc chắn không ai chối cãi. Nếu mặc áo đầm, hay quần tây mà đội nón không tạo được nét đẹp riêng. Nón dùng để che nắng mưa, có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khỏang 2500-3000 năm. Nón lá gần với đời sống tạo nhiều nét bình dị, đoan trang, yêu kiều, duyên dáng và thực tiễn với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi. Nón lá ở Việt Nam có nhiều loại khác nhau qua từng giai đoạn lịch sử Giang hàng bán một số loại nón lá. - Nón dấu nón có chóp nhọn của lính thú thời xa xưa - Nón gò găng hay nón ngựa sản xuất ở Bình Định làm bằng lá dứa đội khi cỡi ngựa - Nón rơm Nón làm bằng cộng rơm ép cứng - Nón quai thao người miền Bắc thường dùng trong lễ hội - Nón cời nón rách - Nón Gõ Nón gõ làm bằng tre ghép cho lính hồi xưa - Nón lá Sen cũng gọi là nón liên diệp - Nón thúng thứ nón lá tròn bầu giống cái thúng. - Nón khua Viên đẩu nón của người hầu các quan xưa - Nón chảo thứ nón mo tròn lên như cái chảo úp nay ở Thái Lan còn dùng - Nón cạp Nón xuân lôi đại dành cho người có tang - Nón bài thơ ở Huế thứ nón lá trắng và mỏng có lộng hình hay một vài câu thơ. Người Việt từ nông thôn cho tới thành thị đều dùng nón lá, nhưng ít người để ý nón lá có bao nhiêu vành, đường kính rộng bao nhiêu cm? Nón lá tuy giản dị rẻ tiền nhưng nghệ thuật làm nón cần phải khéo tay. Nghề chằm nón không chỉ dành riêng cho phụ nữ mà cả những người đàn ông trong gia đình cũng có thể giúp chuốt vành, lên khung nón. Với cây mác sắc, họ chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu ; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy. Người phụ nữ thì chằm nức vành . Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Khi xây và lợp lá, người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng. Nghề làm nón lá thường sản xuất từ miền Bắc và miền Trung trong các làng quê sau các vụ mùa, ở các tỉnh miền Nam không thấy người ta chằm nón? Nguyên liệu và các công đoạn sản xuất nón lá Huế Để làm ra được một chiếc nón lá vừa đẹp, vừa nhẹ, vừa bền là cả một nghệ thuật và công phu của những nghệ nhân, đòi hỏi sự tỉ mỉ và công phu trong từng công đoạn của quy trình sản xuất. Danh tiếng, tính chất đặc thù của nón lá Huế có được là nhờ nghề làm nón lá ở Thừa Thiên Huế đã kế thừa những yếu tố hợp lý của các loại nón lá, từ cung đình đến dân gian, từ miền Bắc đến miền Nam để tạo ra sản phẩm riêng của vùng này. Nguyên liệu để sản xuất nón lá Huế là cây lá nón có tên khoa học là Licuala Fatoua Becc, được trồng ở huyện A Lưới và huyện Nam Đông, đây là vùng có lượng mưa lớn, độ ẩm cao nên phù hợp với sự phát triển của cây lá nón. Lá nón nguyên liệu được sử dụng là lá không quá non cũng không quá già. Lá nón nguyên liệu được sử dụng là lá không quá non cũng không quá già – lá thường đang còn búp vừa đủ một tháng tuổi và phát triển hết chiều dài, chiều ngang, chưa chuyển sang màu xanh đậm, các bẹ lá ôm khít với nhau, chưa bung ra, có độ mềm với chiều dài khoảng 40-50cm. Để làm ra được một chiếc nón lá vừa đẹp, vừa nhẹ, vừa bền là cả một nghệ thuật và công phu của những nghệ nhân, đòi hỏi sự tỉ mỉ và công phu trong từng công đoạn của quy trình sản xuất. Trong khâu kỹ thuật, thợ làm nón lá Huế có kinh nghiệm chọn lá dù khô cũng còn giữ được màu xanh nhẹ, 16 vành nức thường mảnh được vót tròn trĩnh, tỉ mỉ và công phu. Lá được ủi nhiều lần, cẩn thận cho thật phẳng và láng. Hình dáng của chiếc nón lá Huế phụ thuộc rất nhiều vào khung chằm. Khung chằm còn gọi là khuôn nón phải được đặt riêng với yêu cầu cụ thể để dáng của chiếc nón lá sau này cân đối, đẹp mắt, vừa ý. Người thợ làm khung nón giữ kỹ thuật tạo dáng mái, khoảng cách giữa các vành và độ tròn của vành... như một thứ gia bảo cha truyền con nối, theo một thẩm mỹ dân gian "hay mắt" mà thật ra là cả một tỷ lệ thích hợp đã được nhiều đời và nhiều vùng kiểm nghiệm "thuận mắt ta ra mắt người". Khi xây và lợp lá phải thật khéo, nhất là khâu sử dụng lá chêm, tránh việc chồng nhau nhiều lớp để sao cho nón thanh và mỏng, mũi chỉ chằm phải sát để kẽ lá ôm khít lấy nhau. Nghệ nhân làm nón đang khâu lá nón trên khung chằm. Ảnh Du lịch Việt Nam. Khi nón chằm hoàn tất, người thợ đính cái soài bằng chỉ màu rất đẹp vào chóp nón sau đó mới phủ dầu nhiều lần, phơi đủ nắng để thành nón bóng láng và giữ được bền. Nhờ kinh nghiệm và đôi bàn tay khéo léo của những nghệ nhân, nón lá Huế không những mang được dấu ấn biểu trưng cho vẻ đẹp của Huế, của làng nghề văn hóa Huế mà còn trở thành hàng lưu niệm được ưa thích của mọi người khắp nơi đến Huế và của nhiều du khách quốc tế. Phân biệt nón lá Huế với các loại nón lá khác Dù xuất hiện ở đâu, chiếc nón Huế vẫn mang đậm hồn quê, vẫn mang đậm hương đồng, gió nội của những làng nghề truyền thống, nơi đã sản sinh ra nó. Nón lá Huế từ lâu đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác của các nghệ sĩ Huế và của những người yêu Huế. Nón lá Huế có được danh tiếng như vậy là do nón lá Huế có những đặc trưng riêng về màu sắc, kiểu dáng, kích thước, trọng lượng, độ bền... đã tạo nên sự khác biệt so với nón lá của các địa phương khác. Về hình thái nón lá Huế màu trắng xanh, có những đường điểm xuyết màu xanh rất nhẹ theo chiều dọc lá nên về cơ bản sắc màu nón lá Huế vẫn là trắng. Nón lá Huế mỏng, nhẹ, thanh tao, mềm mại, đẹp chắc, bền và cân đối. Nón lá Huế mỏng, nhẹ, thanh tao, mềm mại, đẹp chắc, bền và cân đối. Ảnh Mytour. Về các chỉ tiêu chất lượng chính của nón Huế - Trọng lượng trong khoảng 57,4 - 60,3 Mg; - Đường kính nón trong khoảng 40,7 - 41,8 cm; - Chiều cao nón trong khoảng 17,5 - 18,8 cm; - Tính cân đối của nón – tỷ số H/D trong khoảng 0,436 - 0,448; - Chỉ số về độ bền tương đối của nón F/M nón trong khoảng 134,33 - 137,58 là tỉ số giữa lực ép tại thời điểm làm gãy nón với trọng lượng của nón. Phương Thảo - Hương Trang Cục Sở hữu trí tuệ * Tiêu đề đã được Ban biên tập Khám phá Huế đặt để phù hợp với nội dung thông tin tổng hợp. Làng nón lá Mỹ Lam – Chiếc nón bài thơ xứ Huế “Ai ra xứ Huế mộng mơ Mua về chiếc nón bài thơ làm quà” Nón lá biểu tượng của người Việt Nam, nguồn sưu tầm Từ bao đời nay, hình ảnh người con gái Huế mặc áo dài với chiếc nón lá nghiêng nghiêng, đã là một vẻ đẹp riêng của Huế. Nhà thơ Trần Quang Long có viết “Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón Trời mùa thu mây che có nắng đâu…” Những chiếc nón lá nhẹ nhàng, âm thầm góp phần tạo nên cái nét riêng đó. Ngày nay, vì nhiều lý do, hình ảnh những chiếc nón đang dần vắng bóng trên đường phố Huế. Ngôi làng với truyền thống làm nón bao đời Tôn vinh lên vẻ đẹp của người phụ nữ, nguồn sưu tầm Làng Mỹ Lam thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, cách trung tâm thành phố Huế từ 5 đến 7 cây số về phía Đông Nam. Ngôi làng này là một trong số ít các ngôi làng vẫn còn lưu giữ nghề chằm nón truyền thống. Nghề làm nón được lưu truyền qua các thế hệ, nguồn sưu tầm Tính tới nay, nghề làm nón của làng đã tồn tại gần 160 năm. Người dân nơi đây đã gắn bó với nghề làm nón một cách tự nhiên từ đời này sang đời khác. O Yến là một trong những nghệ nhân lâu đời của làng chia sẻ “Nói tới nguồn gốc thì o không biết nguồn gốc của nghề này từ đâu. O chỉ biết là từ ông bà o truyền lại cho cha mẹ o, rồi cha mẹ truyền lại cho o”. Có thể nói tuổi thơ của người dân nơi đây gắn liền với nghề làm nón. “Mỹ Lam, Phú Mỹ bao đời Làng quê nón lá người người thiết tha Bao năm vất vả mọi nhà Nên danh nên nghiệp cũng là từ đây.” Những câu thơ được lưu truyền trong làng Làm nón – tưởng không khó nhưng khó không tưởng Những chiếc nón lá mảnh mai, trông đơn giản nhưng để làm ra nó phải cần kỹ thuật, kinh nghiệm của những người yêu nghề. Để làm nên một chiếc nón lá phải trải qua rất nhiều công đoạn khó khăn. Từ khâu chọn lá, vuốt nan, lên khung, xây lá, chằm nón. Tất cả đều bằng các phương pháp thủ công. Không cần phải hiện đại, sự tỉ mỉ khéo léo mới có thể làm nên chiếc nón, nguồn sưu tầm Lá được dùng làm nón thường là lá dừa hoặc lá gội. Được các nghệ nhân thu mua về rồi xử lý một cách tỉ mỉ, lựa chọn kỹ càng. Tạo nên những chiếc lá vừa mỏng, vừa sáng bóng. Để khi xếp lá, chiếc nón trở nên mỏng nhẹ, che mưa, che nắng. Xếp lá hay còn gọi là xây lá, nguồn sưu tầm Để tạo nên hình dáng của chiếc nón thì lên khung là một công đoạn rất quan trọng. Khung nón được tạo từ 16 cung tròn được ví như “16 vành trăng lên”. Khoảng cách và độ lớn của mỗi đường tròn được lưu giữ và truyền lại từ xưa đến nay. 16 cung tròn như 16 cung trăng, nguồn sưu tầm Chằm nón hay khâu nón, đây là công đoạn cuối cùng. Cũng là công đoạn đòi hỏi sự tỉ mỉ và kinh nghiệm nhiều nhất. Mũi kim phải nhỏ đều nhau mà không được quá căng để lại những vết rách trên nón. Mỗi nghệ nhân đều có một một kinh nghiệm chằm nón khác nhau, đúc kết từ quá trình làm nón. Những o, những mệ tuy mắt đã yếu, tay đã run. Nhưng khi chằm nón đôi tay họ thoăn thoắt. Dáng vẻ ấy như đang thể hiện một điệu múa dân gian đã in sâu vào trong máu mỗi người vậy. Tuổi tác không quan trọng, quan trọng là kinh nghiệm và tay nghề, nguồn sưu tầm Chiếc nón bài thơ – sự sáng tạo ngọt ngào Chiếc nón bài thơ Huế là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca. Nón bài thơ Huế được cho là sáng kiến của nghệ nhân Bùi Quang Bặc – một người yêu thơ trong làng. Ông đã nghĩ ra sáng kiến ép những câu thơ vào giữa 2 lớp lá để tôn vinh lên vẻ đẹp của chiếc nón lá. Chiếc nón Bài Thơ xứ Huế, nguồn internet Ngày nay, để làm đẹp thêm cho chiếc nón, người ta không những ép thơ mà còn ép những hình ảnh gắn liền với xứ Huế như tranh về sông Hương, núi Ngự Bình, chùa Thiên Mụ,… Thoát xác từ một vật dụng để che nắng, che đây, nón lá đã trở thành một món trang sức thêm đẹp, thêm duyên cho người phụ nữ. Và hơn thế nữa là trở thành một món quà lưu niệm. Nó mang biểu tượng của xứ Huế lan rộng ra khắp năm châu, bốn bể. Là món quà lưu niệm rất ý nghĩa khi đến Huế, nguồn sưu tầm Đến Mỹ Lam học chằm nón Để có thể trải nghiệm, hiểu rõ hơn về các công đoạn, sự khó khăn khi làm ra một chiếc nón. Du khách hãy tìm đến làng Mỹ Lam. Chỉ cần hỏi thăm nhà o Yến hay nghệ nhân Lê Thị Yến, thì bạn sẽ được mọi người nhiệt tình chỉ dẫn tới tận nơi. Bạn sẽ được các o, các mệ tóc đã bạc màu, với đôi bàn tay chai sần hướng dẫn công việc tận tình. Mang một nét đẹp bình dị, thanh tao, nguồn sưu tầm Trên mảnh đất chữ hình S không chỉ có mỗi chiếc nón bài thơ của Huế, mà còn có nón lá Quảng Bình, nón quai thao,… Nhưng nón lá Huế – nón Mỹ Lam lại mang một nét rất riêng. Giống như người con gái Huế, nhẹ nhàng, thướt tha, sâu lắng, bình dị và thanh tao. Dáng hình ấy làm xao xuyến bao tâm hồn du khách, các chàng trai khi đến với xứ Huế mộng mơ. Người viết Kim Toàn

nón bài thơ xứ huế