Qua đèo Ngang là một bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ này có 8 câu mỗi câu bảy chữ, hợp vần ở chữ cuối câu một và chữ cuối các câu chẵn (1, 2, 4, 6 và 8). Trong bài thơ, câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6. Nói cách khác, có phép đối ở bốn câu Bà huyện thanh quan là một trong số nữ thi sĩ tài danh hiếm có trong thời đại xưa. bài thơ "qua đèo ngang" của bà đã để lại trong em ấn tượng sâu sắc. Bằng thể thơ thất ngôn bát cú đường luật rất chặt chẽ về vần, luật. Bài thơ "qua đèo ngang" gợi tả rất tinh tế cảnh vật đèo ngang và tâm trạng buồn mang mác của tác giả ẩn trong từng câu từng chữ. Bài mẫu 1: Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan. Dàn ý. 1. Mở bài. Giới thiệu đôi nét về tác giả Bà Huyện Thanh Quan và tác phẩm Qua đèo Ngang. Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, quê ở Nghi Tàm, Thăng Long. KIẾN THỨC TÍCH HỢP LIÊN MÔN "QUA ĐÈO NGANG"-NGỮ VĂN 7. GV: Lê Thị Bích Ngọc Thái Nguyên Tiết 29. Văn bản - QUA ĐÈO NGANG I. Mục tiêu bài học 1. Kiến thức: - Sơ giản về tác giả Bà Huyện Thanh Quan. - Đặc điểm thơ Bà Huyện Thanh Quan qua bài thơ Qua Đèo Ngang. Với phong cách trang nhã bài thơ Qua đèo ngang cho thấy cảnh tượng đèo ngang thoáng đãng mà heo hút,thấp thoáng có sự sống con người nhưng còn hoang sơ,đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước thương dân nỗi buồn thầm lặng của tác giả.Bài thơ cũng là lời nhắn gửi tâm sự nỗi lòng của tác giả đến người đọc,bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ đượm nét buồn mà còn Lác đác bên sông chợ mấy nhà". Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang Của Bà Huyện Thanh Quan. Đến hai câu thơ tiếp theo thì mới thấy bóng dáng của con người. "người tiều phu" đi lượm củi vẫn tạo cảm giác vô định, "lom khom" từ ngữ nhấn mạnh thể hiện sự vất vả Bài viết về cảnh tượng đèo ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng có sự sống của con người nhưng còn hoang sơ, đồng thời, thể hiện nỗi nhớ nước, thương nhà, nỗi buồn thầm lặng, cô đơn của tác giả. Hướng dẫn soạn văn lớp 7 bài Qua đèo ngang chi tiết, ngắn Thân bài Phân tích bài Qua đèo ngang của bà Huyện Thanh Quan. Chỉ bằng hai câu thơ đầu ta đã cảm nhận được nỗi buồn của nhà thơ.Câu thơ xuất hiện cụm từ bóng xế tà và điệp từ " chen" cùng cách gieo vần đã tạo nên một sự cô đơn tĩnh mịch Từ tà như để diễn Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd Asideway. Phân tích bài Qua đèo ngang – Ôn thi HK, thi HSG lớp 7 do Kiến thức tổng hợp chắt lọc từ các tài liệu chuẩn – đặc sắc nhất. Tổng hợp 6 mẫu mở bài – kết bài hấp dẫn lấy điểm trên 8. Cùng đầy đủ dàn ý, mẫu bài giúp học sinh tham khảo và ôn tập tốt hơn, mời theo dõi! Nội dung bài viết1 Giới thiệu tác giả, tác phẩm qua đèo Tác Tác Bố cục phân tích bài Qua đèo Đặc sắc nội dung và nghệ thuật2 Dàn ý phân tích bài Qua Đèo Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Mở Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Kết bài Giới thiệu tác giả, tác phẩm qua đèo ngang Bà huyện Thanh Quan là nữ thi sĩ nổi tiếng nhất XVIII – XIX của Việt Nam. Nhân vật từng nhận không ít những lời khen “có cánh” của các nhà phê bình văn học, như Nguyễn Lộc trong Từ điển văn học “Ở tất cả những bài thơ viết bằng luật Đường của bà, niêm luật đều chặt chẽ mà không có cảm giác gò bó, xếp đặt, câu thơ trang nhã, từ ngữ chải chuốt và chọn lọc công phu. Bà huyện Thanh Quan là một trong những nhà thơ nữ nổi tiếng nước ta. Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu “Những bài thơ Nôm của bà truyền lại có ít, phần nhiều là thơ tả cảnh, tả tình, nhưng bài nào cũng hay và tỏ ra bà là người có tính tình đoan chính, thanh tao, một người có học thức, thường nghĩ tới nhà, tới nước. Lời văn rất trang nhã, điêu luyện.” Bà Huyện Thanh Quan là nữ thi sĩ tài hoa của thế kỷ XVIII – XIX Tác giả – Bà huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, quê ở Thăng Long và là người Đàng ngoài thuộc phủ chúa Trịnh. – Bà Huyện Thanh Quan là một nữ thi sĩ học rộng tài cao, nổi tiếng nhất ở thế kỉ XVIII – XIX. – Quê gốc của bà ở Nghi Tàm – Tây Hồ – Hà Nội, là người sinh ra thuộc chúa Trịnh nhưng lại có cơ duyên với họ Nguyễn. Bà được chúa Nguyễn ban họ trong lần vào cung Phú Xuân. – Đặc điểm thơ tiêu biểu của Bà huyện Thanh Quan là nét tâm sự hoài cổ. Thơ của bà xuất hiện nhiều hình ảnh thiên nhiên, thường là lúc trời chiều. Làm gợi một nỗi niềm nhớ nhung khó tả, cùng tâm trạng buồn man mác. – Cảnh trong thơ được khắc họa như một bức tranh thủy mặc, chấm phá, diễn tả bằng nghệ thuật ước lệ. – Hoàn cảnh xa xứ một đi chưa trở lại đã trở thành nỗi niềm trở đi trở lại trong nhiều thi phẩm của nhà thơ. Mỗi bức tranh tả cảnh đều chất chứa một tình cảm nhớ quê nhà da diết. – Đối với bà, cái đẹp là cái dĩ vãng còn hiện tại lại vắng vẻ, hiu quạnh. – Vì vậy, Bà huyện Thanh Quan còn được biết đến là nhà thơ hoài cổ – hoài thương điển hình trong văn học trung đại Việt Nam. Tác phẩm – Hoàn cảnh sáng tác Bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan được sáng tác trong lần bà vào Huế làm chức cung trung giáo tập để dạy công chúa và cung phi. Trên đường vào kinh nhận chức, khi qua Đèo Ngang, “tức cảnh sinh tình” nên bà đã sáng tác bài thơ. Đèo Ngang là địa danh nổi tiếng thuộc dãy núi Hoành Sơn, phân cách địa giới hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Hình ảnh con đèo trở thành cảm hứng văn chương của không ít thì nhân như Nguyễn Khuyến có bài Qua Hoành Sơn, Nguyễn Thượng Hiền có Hoành Sơn xuân vọng, Cao Bá Quát có Đặng Hoành Sơn,… Thế nhưng, “Qua Đèo Ngang” vẫn là tác phẩm được nhiều người yêu thích và phổ biến hơn cả khi viết về địa danh này. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan – Tìm hiểu phân tích bài Qua Đèo Ngang Thể thơ Thất ngôn bát cú Đường Luật 8 câu 7 chữ theo luật thơ Đường, được viết bằng chữ Nôm. Gieo vần chân chữ cuối ở mỗi câu thơ tà, hoa, nhà, gia, ta Nghệ thuật đối câu 3 – 4, 5 – 6 Niêm luật chặt chẽ về Bằng – Trắc B – T Tiếng thứ 2 của câu 1 là thanh bằng -> Luật B Tiếng thứ 2 của câu 1 là thanh trắc -> Luật T Tiếng 2 trùng thanh với tiếng thứ 6 và khác thanh với tiếng thứ 4 Các tiếng 1, 3, 5 bằng trắc tùy ý Xem thêm Cách xác định các loại phương thức biểu đạt trong văn học Bố cục phân tích bài Qua đèo ngang Phân tích bài Qua đèo ngang có bố cục 4 phần, tương ứng với “Đề – thực – luận – kết”. Mỗi phần là hai câu thơ theo thứ tự Đề Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà, / Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Thực Lom khom dưới núi, tiều vài chú / Lác đác bên sông, chợ* mấy nhà Luận Nhớ nước đau lòng, con quốc quốc, / Thương nhà mỏi miệng, cái gia gia Kết Dừng chân đứng lại, trời, non, nước, / Một mảnh tình riêng, ta với ta chợ* Thơ có nhiều dị bản khác nhau, trong đó chữ “chợ” hay “rợ” trong câu thơ gây nhiều tranh cãi nhất. Bài thơ trên dùng “chợ” lấy theo nguyên bản thơ đưa vào SGK Ngữ Văn 7. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “rợ” hợp lý hơn “chợ”. Vì trên đèo thì không thể có chợ, mà nếu có thì không thể heo hút “mấy nhà” được. Còn “rợ” là tiếng địa phương Hà Tĩnh chỉ “nhà tạm” nghe hợp lý hơn. Đặc sắc nội dung và nghệ thuật – Nội dung Nội dung phân tích bài Qua Đèo Ngang Miêu tả bức tranh thiên nhiên và cuộc sống của con người nơi đèo Ngang đẹp, hoang sơ nhưng gợi buồn man mác. Bộc lộ tâm trạng Hoài cổ nhớ nước, thương nhà da diết, nỗi buồn thầm lặng cô quạnh. – Nghệ thuật Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc Sử dụng hàng loạt biện pháp tu từ nhân hoá, đảo ngữ, điệp từ, chơi chữ điêu luyện Miêu tả kết hợp biểu cảm Lời thơ trang nhã, uyên thâm, âm điệu trầm lắng giàu cảm xúc Bài viết liên quan khác Các biện pháp tu từ thường gặp trong Ngữ Văn Giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc Dàn ý phân tích bài Qua Đèo Ngang Trước khi phân tích bài Qua Đèo Ngang. Ta cần hiểu thế nào là Đề – Thực – Luận – Kết? Lý luận thi pháp thơ Đường luật Trung Quốc không có khái niệm Đề, Thực, Luận, Kết mà thay bằng đầu liên, hàm liên, cảnh liên, vĩ liên. Nói ngắn gọn hơn, chúng tương ứng với “Khai – Thừa – Chuyển – Hợp”. Mặc dù khác nhau cách gọi nhưng chúng hoàn toàn tương tự về ý nghĩa và cách phân chia niêm luật. Hai câu Đề Câu 1 gọi là câu phá đề, Câu 2 gọi là câu thừa đề, chuyển tiếp ý để đi vào phần sau Hai câu Thực Giải thích rõ ý đầu bài Hai câu Luận Bình luận 2 câu Thực. Hai câu luận để diễn tả suy nghĩ, thái độ, cảm xúc về sự vật, hiện tượng Hai câu Kết Khái quát toàn bộ nội dung bài theo chiều mở rộng và nâng cao Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Mở bài MB1 Khi nhắc tên hai nữ thi hào nổi tiếng nhất thơ ca trung đại Việt Nam, chắc chắn nhiều người sẽ nghĩ ngay về hai cái tên quen thuộc. Đến với thơ Hồ Xuân Hương, ta hình dung ngay đến sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá. Ta lại bắt gặp phong thái điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn trong thơ Bà Huyện Thanh Quan. “Qua Đèo Ngang” là tiêu biểu cho phong cách ấy, khi lột tả sâu sắc niềm nhớ quê hương và nỗi lòng người con xa xứ. MB2 Bà Huyện Thanh Quan là một trong những câu bút vàng của nền văn học Việt Nam TK XVIII – XIX. Nổi tiếng là nữ thi nhân nhạy cảm lại thông tuệ, xuất khẩu thành thơ. Trong chuyến đi xa vào kinh đô Huế, vẻ đẹp núi non cùng nỗi niềm xa nhà đã thôi thúc nhà thơ sáng tác thi phẩm “Qua Đèo Ngang”. Đây được xem là một trong các tác phẩm tiêu biểu, đại diện cho tài văn chương và phong thái đoan trang, lối văn trang nhã, điêu luyện của Bà huyện Thanh Quan. MB3 “Muôn dặm đường đi núi lẫn đồi Bên non cỏ nội tiễn đưa người Ai tài kéo nước nghìn năm lại Trăm trận còn tên một luỹ thôi” Lên núi Hoành Sơn – CBQ Đó là những chiêm nghiệm sâu sắc về thực tế nghiệt ngã của sự mất. Còn là tự lý giải bao nghịch lý đường đời trên hành trình của nhà thơ Cao Bá Quát. Khi ông đứng trên non cao vời vợi mà nhìn về kiếp người. Cùng được lấy cảm hứng khi đứng trước “Đèo Ngang” nổi tiếng của Việt Nam, Bà huyện Thanh Quan lại nhuốm buồn cho khung cảnh nơi đây bằng khúc nhớ quê của kẻ tha phương. “Qua Đèo Ngang” trở thành nỗi niềm chung của những người con xa xứ. Cũng là tiêu biểu cho phong cách tâm sự hoài cổ của nữ thi nhân. Bài thơ Qua Đèo Ngang Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu đề ” Bước tới… chen hoa” – Không gian cảnh trên Đèo Ngang – Thời gian nghệ thuật lúc xế tà đã về chiều hay còn gọi là lúc hoàng hôn => Thời gian gợi buồn, nỗi nhớ làm tăng thêm nỗi cô đơn trong lòng tác giả trên đường lữ khách tha hương – Cảnh vật cỏ cây, lá, đá, hoa => Động từ “chen’’ điệp 2 lần khắc họa sức sống cỏ cây ở một nơi hoang dã, vô trật tự, hoang vu. Dưới hoàn cảnh khắc nghiệt, những mầm sống phải chen lấn nhau để tồn tại. Cảnh tuy đầy đủ hoa lá, màu sắc nhưng lại càng tô đậm nét hiu hắt, tiêu điều. Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu thực “Lom khom… mấy nhà” – Nghệ thuật đối, đảo ngữ, lặp cú pháp – Tác dụng Nhấn mạnh tính chất đặc điểm của con người và cảnh vật – Sử dụng hàng loạt từ láy Lom khom, lác đác – Tác dụng Xoáy sâu vào hiu quạnh, thưa thớt đến buồn cô quạnh. Nghệ thuật chấm phá khiến con người và những biểu hiện của sự sống con người trở nên ít ỏi, nhỏ bé giữa thiên nhiên mênh mông. Cũng thấy được điểm nhìn từ xa của tác giả, cho thấy bước chân nặng trĩu nỗi niềm khi dần xa quê hương của thi sĩ. Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu luận “Nhớ nước… gia gia” – Nghệ thuật đối, đảo ngữ nhớ – thương lên trước, lấy động tả tĩnh, đồng âm, ẩn dụ tượng trưng – Tác dụng Nhấn mạnh tâm trạng của tác giả, gợi nỗi buồn khổ, khắc khoải, triền miên không dứt. – Tiếng chim kêu Vừa là yếu tố nghệ thuật xoáy sâu vào sự vắng lặng trong khung cảnh. Vừa là hình ảnh ẩn dụ tượng trưng để bộc lộ chiều sâu tâm trạng, nỗi nhớ nhà khôn nguôi. Tiếng chim quốc ẩn dụ nỗi niềm nhớ nước quốc = nước Tiếng chim đa ẩn dụ tâm trạng nhớ nhà gia = nhà – Ý nghĩa Đó là tiếng lòng tha thiết, da diết của nhà thơ Nhớ nhà, quê, nhớ quá khứ của đất nước, nhớ kinh thành Thăng Long => Tiêu biểu cho nét tâm trạng hoài cổ trong thơ Bà huyện Thanh Quan. Đánh giá thơ của Bà huyện Thanh Quan Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Hai câu kết “Dừng chân… với ta” – Biện pháp đối ý Trời, non, nước >< một mảnh tình riêng Trời, non, nước Đại diện cho thiên nhiên rợn ngợp, mênh mông, lớn lao Một mảnh tình riêng Thế giới nội tâm của cá nhân nhân vật trữ tình buồn nhớ da diết, cô đơn – Ý nghĩa “Mảnh tình riêng” Tình riêng là chỉ tình cảm sâu kín. Đó không phải là tình yêu đôi lứa mà là tình cảm thiêng liêng với quê hương, đất nước của nhà thơ. – Cụm từ “ta với ta” Tuy 2 mà 1, chỉ để nói một người, một nỗi buồn, một nỗi cô đơn không ai sẻ chia, hoàn toàn trong thế giới cô độc. – Kết luận Hai câu thơ thể hiện hình ảnh một người phụ nữ nhỏ bé, cô đơn giữa đất trời bao la. Đây là những ý thơ cực tả về sự cô độc, buồn đau. Cũng là nhớ tiếc về quá khứ, nỗi thương nước nhớ nhà của nhà thơ. Phân tích bài Qua Đèo Ngang – Kết bài KB1 Lời thơ xao xuyến, bồi hồi, chan chứa bao nỗi niềm nhớ thương quê hương. “Qua Đèo Ngang” đã trở thành tiếng lòng chung của những người con xa xứ. Cũng là áng thơ tiêu biểu cho nghệ thuật chấm phá, ước lệ đặc trưng của thơ ca trung đại. Tiêu biểu cho phong cách văn chương vừa thông tuệ sâu sắc, vừa thấm đượm tình cảm, thoang thoải màu buồn của Bà huyện Thanh Quan. Hướng dẫn xây dựng MB – KB hấp dẫn KB2 Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà huyện Thanh Quan vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ. Đồng thời gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp của con người. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa nhà. Tâm trạng chung của mỗi người khi lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người. KB3 Với giọng điệu tha thiết, tâm tình, lúc trầm bổng đan xen. Cùng với các biện pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình độc đáo, lấy động tả tĩnh, phép đảo ngữ, điệp ngữ… Mang đến cảm xúc dạt dào đi sâu vào lòng người đọc trong bài “Qua Đèo Ngang”. Qua đó, ta thêm hiểu tấm lòng của người con khi xa quê để càng thêm yêu quê nhà. Trên đây là bài Phân tích bài Qua đèo ngang – Ôn thi HK, thi HSG lớp 7 do Kiến thức tổng hợp chắt lọc từ các tài liệu chuẩn – đặc sắc nhất. Đừng quên Like và Share để nếu thấy bộ tài liệu này hữu ích cho phần ôn tập chương trình học Ngữ Văn! Nguồn Kiến thức tổng hợp Dàn ý phân tích bài thơ Qua đèo Ngang Qua đèo Ngang là một tác phẩm ghi dấu tên tuổi của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ mang một âm hưởng nhẹ buồn của buổi chiều tà. Cùng nhau phân tích bài thơ Qua đèo Ngang để hiểu rõ về những giá trị nội dung cũng như bút pháp nghệ thuật mà Bà Huyện Thanh Quan đã sử dụng trong bài thơ này nhé! Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan Mở bài - Về tác giả Bà Huyện Thanh Quan và tác phẩm Qua Đèo Ngang + Tên thật của Bà Huyện Thanh Quan là Nguyễn Thị Hinh, đến từ Nghi Tâm, Thăng Long. + Bài thơ Qua Đèo Ngang mô tả cảnh đèo Ngang vào cuối ngày, qua đó nhà thơ cũng thể hiện tình cảm của mình trong lòng. Xem thêm Cảm nhận bài qua đèo ngang Bài thơ qua đèo ngang hoàn cảnh sáng tác, nội dung, dàn ý phân tích Thân bài Chia bài làm 4 phần và phân tích nội dung của chúng a. Hai câu đề - Thời điểm nữ nhà thơ bước lên đèo Ngang hoàng hôn. - Mô tả cảnh quan của đèo. => Thời điểm hoàng hôn có lợi thế khi gợi lên cảm giác yên tĩnh, là lúc muốn được đoàn tụ, trở về nhà. Qua đó thể hiện tâm trạng cô đơn của tác giả. b. Hai câu thực - Cuộc sống và con người ở ngang đèo, cảnh quan có sự tương đồng. - Những từ láy lom khom, lác đác; Những từ tượng thanh quốc quốc, gia gia có tác dụng tuyệt vời trong việc gợi lên, gợi cảm và táo bạo hoang vắng, vẻ ngoài cô đơn. c. Hai câu luận - Khóc quốc quốc và gia gia làm tăng nỗi nhớ nhà. - Sử dụng đối và đảo ngược, có tác dụng vừa gợi hình vừa gợi thanh. d. Hai câu kết - Tâm trạng hoang mang của người phụ nữ khi dừng lại để nhìn quang cảnh đèo. - Nhận ra sự cô đơn, cô đơn của mình giữa không gian bao la. => Qua mô tả của Bà Huyện Thanh Quan, khung cảnh đèo Ngang xuất hiện với hình ảnh hoang sơ về rừng núi với cuộc sống con người nhưng nhỏ bé, yên tĩnh, thưa thớt và buồn tẻ. Tác giả đã mượn hình ảnh hoang tàn, thưa thớt của những người nói về nỗi cô đơn của họ, mượn một tiếng khóc vang vọng đất nước và gia đình để thể hiện nỗi nhớ nhà và nỗi nhớ nhà của đất nước. Kết bài - Sơ lược lại nội dung và giá trị nghệ thuật. - Nói lên cảm xúc của bản thân về bài thơ Qua Đèo Ngang. Trên đây là dàn ý phân tích bài thơ qua đèo ngang của bà huyện Thanh Quan chi tiết và đủ ý. Hy vọng với dàn ý trên bạn sẽ hiểu hơn về tác phẩm và có thể hoàn thành đề văn tốt nhất. Đừng quên chia sẻ và tham khảo thêm các bài văn khác tại CungHocVui nhé. I. DÀN Ý1. Mở bài– Đèo Ngang là ranh giới tự nhiên ngăn cách giữa hai tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình. Đây cũng là một thắng cảnh thiên nhiên nổi tiếng.– Rất nhiều thi sĩ đã làm thơ tả cảnh đèo Ngang, trong đó nổi tiếng nhất là bài Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.– Tác giả sáng tác bài thơ này trong dịp từ Thăng Long vào Huế để nhậm chức Cung trung giáo tập nữ quan dạy dỗ nghi lễ cho các cung nữ.– Đằng sau bức tranh phong cảnh là tâm trạng cô đơn và hoài niệm về một thời đại phong kiến huy hoàng đã qua, không bao giờ trở Thân bài* Hai câu đề+ Câu thứ nhất Bước tới đèo Ngang bóng xế tà.– Thời điểm nữ sĩ đặt chân tới đèo Ngang là lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống.– Cảnh vật rất dễ gợi buồn trong lòng người lữ thứ.+ Câu thứ hai cỏ cây chen đá, lá chen hoa.– Miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, tràn đầy sức sống của đèo Ngang qua điệp từ chen và hai vế đối cỏ cây chen đá lá chen hoa.– Cảnh đẹp nhưng vẫn nhuốm màu buồn tẻ, quạnh hiu của một miền sơn cước.* Hai câu thực+ Câu thứ ba Lom khom dưới núi tiều vài chú.– Đảo ngữ trong câu đặc tả dáng vẻ mấy tiều phu kiếm củi sườn núi, nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi của con người trước thiên nhiên hùng vĩ.+ Câu thứ tư Lác đác ven sông chợ mấy nhà.– Hình ảnh ngôi chợ là bộ mặt của cuộc sống một vùng nhưng ở đây, chợ chỉ là vài túp lều tranh xiêu vẹo ven sông.– Không khí vắng vẻ, quạnh hiu bao trùm lên cảnh vật.* Hai câu luận+ Câu thứ 5 Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc.– Tiếng cuốc kêu khắc khoải lúc chiều buông càng làm cho không gian thêm tĩnh lặng.– Có thể là tiếng cuốc kêu mà cũng có thể là tiếng vọng từ trong tâm tưởng hoài cổ của nữ sĩ đang nuối tiếc thời đại huy hoàng đã qua, thể hiện nỗi buồn trĩu nặng, khó nguôi ngoai.– Nghệ thuật đối câu câu 5 >< con người nhỏ bé.+ Cậu thứ 8 Một mảnh tình riêng ta với ta.– Nét tương phận càng tô đậm sự cô đơn, buồn bã trong lòng người.– Nỗi buồn không thể san sẻ nên kết tụ lại trong lòng thành mảnh tình riêng, chỉ có ta với ta mà thôi.– Âm hưởng, nhịp điệu câu thơ giống như một tiếng thở dài ngậm ngùi, nuối Kết bài– Qua đèo Ngang được đánh giá là một bài thơ xuất sắc, thể hiện tài năng và tấm lòng yêu mến non sông, đất nước của nữ sĩ.– Thể thơ Đường luật sang trọng đã trở nên gần gũi, dễ hiểu bởi ngôn ngữ trong sáng và những hình ảnh dân dã, quen thuộc.– Bài thơ có sức sống vĩnh cửu trước thời gian và trong lòng nhiều thế hệ yêu thơ. a. Mở bài – Giới thiệu tác giả Bà Huyện Thanh Quan. – Giới thiệu tác phẩm “Qua Đèo Ngang”. b. Thân bài – Hai câu đề + Câu thứ nhất Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Thời điểm nữ sĩ đặt chân tới đèo Ngang là lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống. Cảnh vật rất dễ gợi buồn trong lòng người lữ thứ. + Câu thứ hai cỏ cây chen đá, lá chen hoa Miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, tràn đầy sức sống của đèo Ngang qua điệp từ chen và hai vế đối cỏ cây chen đá lá chen hoa. Cảnh đẹp nhưng vẫn nhuốm màu buồn tẻ, quạnh hiu của một miền sơn cước. – Hai câu thực + Câu thứ ba Lom khom dưới núi tiều vài chú Đảo ngữ trong câu đặc tả dáng vẻ mấy tiều phu kiếm củi sườn núi, nhấn mạnh sự nhỏ bé, ít ỏi của con người trước thiên nhiên hùng vĩ. + Câu thứ tư Lác đác bên sông chợ mấy nhà Hình ảnh ngôi chợ là bộ mặt của cuộc sống một vùng nhưng ở đây, chợ chỉ là vài túp lều tranh xiêu vẹo ven sông. Không khí vắng vẻ, quạnh hiu bao trùm lên cảnh vật. – Hai câu luận Nhớ nước đau lòng con quốc quốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia + Tiếng cuốc kêu khắc khoải lúc chiều buông càng làm cho không gian thêm tĩnh lặng. + Có thể là tiếng cuốc kêu mà cũng có thể là tiếng vọng từ trong tâm tưởng hoài cổ của nữ sĩ đang nuối tiếc thời đại huy hoàng đã qua, thể hiện nỗi buồn trĩu nặng, khó nguôi ngoai. + Nghệ thuật đối câu câu 5 > + Điều băn khoăn lớn nhất của nữ sĩ không ngoài chuyện của quốc gia, của thời đại. – Hai câu kết + Câu thứ 7 Dừng chân đứng lại, trời, non, nước Cảnh đẹp của đèo Ngang thật hùng vĩ, khiến nữ sĩ phải dừng chân để chiêm ngưỡng, để thu nhận vẻ đẹp kì diệu ấy vào tâm hồn. Giữa cảnh vật và lòng người có nét tương phản thiên nhiên cao rộng > + Câu thứ 8 Một mảnh tình riêng ta với ta Nét tương phản càng tô đậm sự cô đơn, buồn bã trong lòng người. Nỗi buồn không thể san sẻ nên kết tụ lại trong lòng thành mảnh tình riêng, chỉ có ta với ta mà thôi. Âm hưởng, nhịp điệu câu thơ giống như một tiếng thở dài ngậm ngùi, nuối tiếc. c. Kết bài – Qua đèo Ngang được đánh giá là một bài thơ xuất sắc, thể hiện tài năng và tấm lòng yêu mến non sông, đất nước của nữ sĩ. – Thể thơ Đường luật sang trọng đã trở nên gần gũi, dễ hiểu bởi ngôn ngữ trong sáng và những hình ảnh dân dã, quen thuộc. – Bài thơ có sức sống vĩnh cửu trước thời gian và trong lòng nhiều thế hệ yêu thơ. 2. Phân tích tác phẩm Qua Đèo Ngang “Qua đèo Ngang” là một tác phẩm nổi tiếng của bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ được viết khi bà lên đường đến huyện Phú Xuân đi qua đèo ngang là một địa danh phong cảnh hữu tình. Bài thơ là bức tranh ngụ tình sâu sắc của nhà thơ qua đó hé lộ cho chúng ta thấy được nỗi nhớ mong tha thiết của tác giả hiện lên rõ nét. Mở đầu bài thơ là hai câu đề Bước tới đèo ngang bóng xế tà Cỏ cây chen lá đá cheo hoa Câu thơ gợi lên thời điểm mà tác giả tới đèo Ngang, khi đó thời gian đã vào xế tà tức là trời đã quá buổi chiều và đang chuyển sang tối. Đối với một vùng hoang sơ hẻo lánh thì thời điểm chiều tà cũng là thời điểm mọi người đã quay trở về nhà. Phải chăng chọn thời điểm như thế tác giả muốn nhấn mạnh cho người đọc cái xơ xác vắng vẻ nơi đây? Và từ đây tâm trạng tác giả bắt đầu hỗn loạn khi chứng kiến cảnh vật từ trên cao nhìn xuống. Vừa đặt chân đến chốn đây cũng là lúc mặt trời đổ bóng. Thời gian lúc này là “bóng xế tà” là khoảng thời gian kết thúc của một ngày. Xưa kia văn thơ trung đại người ta thường chỉ lấy buổi chiều làm hình ảnh trong thi phẩm chỉ khi lòng người mang đậm nỗi buồn. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, phải chăng là nỗi lòng bà huyện Thanh quan tài năng kia cũng mang một nỗi niềm về thế thời. Từ “chen” được điệp đến hai lần trong một câu thơ như tăng thêm chất hiu quạnh hơn. Nghệ thuật tiểu đối trong cùng một câu tạo nên nhịp thơ đăng đối hài hoà. Thêm đó lại càng làm bức tranh chiều tăng thâm phần hiu quạnh. Hai câu thực là khi tác giả đang ở trên đèo cao, phóng mắt nhìn về xung quanh, xa hơn những đá núi, cây cỏ để tìm đến bóng dáng con người Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà Hình ảnh con người đã hiện ra nhưng dường như chỉ làm bức tranh thêm hiu hắt. Tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ cùng với từ láy gợi tả để thể hiện lên điều này. Con người ở đây chỉ có “tiều vài chú” kết hợp với từ láy “lom khom” dưới núi. Cảnh vật thì “lác đác”, “chợ mấy nhà”. Tất cả quá nhỏ bé so với cảnh thiên nhiên hùng vĩ của đèo Ngang. Dường như không khí vắng vẻ, hiu quạnh bao trùm lên toàn cảnh vật. Hai câu luận là nỗi buồn của thi sĩ trước cảnh giang sơn đất nước đang ngày một lụi tàn Nhớ nước đau lòng con quốc quốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia Tiếng kêu của con quốc hay chính là tiếng lòng tác giả. “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” là câu thơ bắt nguồn từ điển tích xưa về vua Thục vì mất nước mà hóa thành con cuốc chỉ biết kêu những tiếng đau thường. Tiếng cuốc kêu khắc khoải càng làm bóng chiều trở nên dịu vợi. Còn tiếng “gia gia” là tiếng kêu tha thiết gợi nỗi “thương nhà”. Thương nhà ở đây có lẽ là nỗi nhớ thương đất nước trong quá khứ hào hùng hay cũng là thương cho sự đổi thay, sự lụi tàn của quê hương. Những xúc cảm của thi sĩ được bộc lộ một cách trực tiếp bằng hai câu luận. Nghệ thuật chơi chữ đồng âm độc đáo kết hợp với biện pháp nhân hóa ” đau lòng” “mỏi miệng” cùng chuyển đổi cảm giác từ nỗi lòng thành tiếng thương tạo ấn tượng mạnh đã cho ta thấy bức tranh ấy không chỉ là cảnh vật mà còn là bức tranh tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan với tình yêu thương nước nhà. Dừng chân đứng lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta Non nước giờ đây hiện hữu trước mắt nhưng thay vì thấy sự hùng vĩ tráng lệ thì ta lại vẫn buồn vì những chữ “dừng chân đứng lại”. Phải chăng cái dừng chân ấy có phải là cái dừng chân, cái dáng đứng bất lực trước thế thời của tác giả. Mảnh đất bao la của “quốc gia” mà lòng người thấy cô đơn lạc lõng biết bao, đứng trước cái mênh mông ấy nên bà chỉ cảm thấy “mảnh tình con con”. Bởi thế mà cụm từ đầy sáng tạo “ta với ta” thêm khắc sâu nỗi buồn man mác trĩu nặng lòng người hơn. Bài thơ Qua Đèo Ngang đã thành công khi chuyển tải được tâm sự u buồn của Bà Huyện Thanh Quan, đồng thời lồng ghép vào đó là cảnh tượng thiên nhiên rất thực, rất sinh động của một con đèo nổi tiếng trong thơ ca và trong lịch sử nước ta. Bài thơ không chỉ thành công về mặt ý nghĩa mà còn rất chỉnh chu trong việc dùng từ, tạo câu thật đặc sắc gây thích thú cho người đọc, người nghe. 3. Cảm nhận bài thơ Qua Đèo Ngang Trong nền văn học Trung đại Việt Nam có lẽ sẽ chẳng ai quên được hai nữ nhà thơ tài năng Hồ Xuân Hương và Bà Huyện Thanh Quan. Nếu ở bà chúa thơ Nôm ta thấy nét bứt phá, hơi nổi loạn thì ta lại tìm thấy những xúc cảm trầm buồn nhẹ nhàng ở Bà Huyện Thanh Quan, tiêu biểu đó là bài “Qua đèo ngang”. Sáng tác trong một lần tác giả đi vào Huế để nhậm chức. Trên đường có đi qua địa danh này, nỗi lòng yêu nước nhớ quê hương, xót nước lại trào dâng làm cảm hứng để tác giả ngẫu hứng bật ra những vần thơ. Mở đầu là hai câu đề khắc họa cảnh vật thiên nhiên nơi đèo Ngang Bước đến đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá lá chen hoa Chỉ bằng hai câu thơ, Bà Huyện Thanh Quan đã khắc họa một cách khái quát nhất về thời gian, không gian, cảnh vật nơi đèo Ngang. Cách mở đầu vô cùng tự nhiên “bước đến đèo Ngang” vào thời gian “bóng xế tà”, đây là thời điểm kết thúc của một ngày, khi con người thường trở về nhà sau một ngày lao động vất vả. Vậy mà nhà thơ lại một mình tại nơi đèo Ngang càng khiến cho nỗi cô đơn trở nên tột cùng. Lại đứng trước khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang rộng lớn mà hoang vu. “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng. Việc sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” gợi ra một thiên nhiên tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. Có thể thấy khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động. Giữa bối cảnh thiên nhiên bao la ấy, thấp thoáng bóng dáng con người và hơi hướng cuộc sống nhưng cũng chỉ ít ỏi, mờ nhạt, xa vời Lom khom dưới núi tiều vài chú, Lác đác bên sông chợ mấy nhà Nhà thơ đã dùng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh đặc trưng của cảnh vật và con người ở đèo Ngang. Dáng vẻ lom khom của mấy chú tiều hái củi sườn non khiến cho con người càng thêm nhỏ bé trước thiên nhiên cao rộng. Chợ vốn là nơi biểu hiện đời sống của một cộng đồng làng xã nên thường tấp nập đông vui, nhưng ở đây nó chỉ là mấy túp lều xơ xác bên sông… Tâm sự của tác giả càng lúc càng rõ nét qua hai câu “luận” Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia Bức tranh phong cảnh ở Đèo Ngang chẳng những có màu sắc của cảnh vật mà còn trở nên da diết với âm thanh của các loài chim như con chim quốc, con chim đa đa… Tiếng chim quốc như nhắc nhở mọi người về điển tích vua Thục Đế hóa thành con chim quốc để luôn nhớ đến nỗi đau mất nước của mình. Em thật khâm phục nghệ thuật đối ý, đối lời trong hai câu thơ này vì khi ghép lại với nhau, người đọc nhận ra ngay được tâm sự của nhà thơ “Nhớ thương nước nhà, quốc gia quốc gia”. Với kết cấu đầu cuối tương ứng, hai câu kết khép lại những tâm trạng của thi nhân Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta Cảnh vật khiến dừng bước chân trên con đường đến Phú Xuân. Cái bao la của đất trời, cái hùng vĩ của núi non, cái mênh mông của sông nước như níu bước chân nữ thi sĩ. Nhưng đứng trước không gian bao la của đèo Ngang, tác giả chợt nhận ra nỗi cô đơn trong lòng mình dần lấp đầy tâm hồn, bao trùm lên mọi cảnh vật “một mảnh tình riêng ta với ta”. Khung cảnh thiên nhiên càng rộng lớn bao nhiêu thì nỗi cô đơn của người lữ khách càng vơi đầy. Một mảnh tình riêng, một tâm tư sâu kín, những tâm trong lòng mà chẳng tìm nổi một người để sẻ chia. Nỗi buồn cứ vậy lắng vào cảnh vật, tâm trạng kéo dài miên man. Chỉ có “ta” và “ta” giữa mênh mông trời đất. “Qua đèo Ngang” là lời nhắn gửi tâm sự của nỗi lòng tác giả đến người đọc. Bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ đượm nét buồn mà còn là những tiếc nuối, một tấm lòng yêu nước thương dân. Phải thật giàu cảm xúc, thật yêu thiên nhiên cùng con người, Bà Huyện Thanh Quan mới có thể để lại những vần thơ tuyệt tác như vậy. 1. Sơ đồ tóm tắt gợi ý 2. Dàn bài chi tiết a. Mở bài - Giới thiệu về Bà Huyện Thanh Quan, nội dung chính bài thơ Qua Đèo Ngang. b. Thân bài * Hai câu đề Cảnh vật thiên nhiên nơi Đèo Ngang - Thời gian “Bóng xế tà”, đây là thời điểm kết thúc của một ngày, khi con người thường trở về nhà sau một ngày lao động vất vả. Vậy mà nhà thơ lại một mình tại nơi đèo Ngang càng khiến cho nỗi cô đơn trở nên tột cùng. - Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng. Điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” gợi ra một thiên nhiên tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. => Khung cảnh thiên nhiên Đèo Ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động. * Hai câu thực Cuộc sống con người nơi Đèo Ngang - Giữa thiên nhiên hoang sơ và rộng lớn con người xuất hiện Nghệ thuật đảo ngữ Lom khom - tiều vài chú hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi. Lác đác - chợ mấy nhà hình ảnh vài căn nhà nhỏ bé thưa thớt, lác đác bên sông. => Nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. Con người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. Cảnh vật và con người dường như có sự xa cách khiến cho không khí càng thêm hoang vu, cô quạnh. * Hai câu luận Tâm trạng nhớ nhà của nhà thơ khi đứng trước Đèo Ngang - Hình ảnh “con quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim chim đỗ quyên, chim đa đa. - Mà ở đây, nhà thơ đã sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” để qua đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương. => Hai câu thơ diễn tả nhớ nhung sâu đậm của Bà Huyện Thanh Quan. * Hai câu kết Nỗi cô đơn tột cùng của nhà thơ - Câu thơ “Dừng chân đứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình đứng tại nơi Đèo Ngang, đưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ thấy thiên nhiên rộng lớn phía trước có bầu trời, có núi non, dòng sông. - Sự cô đơn của nhà thơ “một mảnh tình riêng” - tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ, “ta với ta” - đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi. => Hai câu kết khẳng định lại nỗi cô đơn, trống trải của tác giả trước thiên nhiên rộng lớn. c. Mở bài - Khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ Qua Đèo Ngang. 3. Bài văn mẫu Đề bài Em hãy viết bài văn ngắn phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan. Gợi ý làm bài Bài văn mẫu số 1 Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài Qua đèo Ngang. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình, bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của bà khi trên đường vào kinh đô Huế nhận chức. Mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh “Bước đến đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa” Hai câu thơ mở ra không gian, thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ trung đại, đây đồng thời cũng là nét đặc trưng phong cách của Bà Huyện Thanh Quan chiều tà và bóng hoàng hôn. Thời gian là buổi chiều nhưng không phải là lúc đầu hôm mà là chiều tà, thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, ánh nắng chỉ còn nhạt nhòa và sắp lặn. Không gian mênh mông, rộng lớn, với cả trời, non, nước nhưng tất cả đều im ắng, vắng lặng đến rợn ngợp. Trong không gian đó, hình ảnh cây cối, hoa cỏ hiện lên có phần hoang dại, chúng chen chúc nhau mọc lên. Từ “chen” gợi sức sống mãnh liệt của muôn loài trước cái cằn cỗi của đất đai, cái khắc nghiệt của thời tiết. Đồng thời từ này còn gợi lên thiên nhiên có phần hoang dã, vô trật tự. Không gian và thiên nhiên cây cỏ hòa quyện vào nhau càng làm sâu đậm thêm ấn tượng về mảnh đất hoang vu. Bức tranh được điểm thêm hơi thở, sự sống của con người “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Những tưởng rằng với sự xuất hiện của sự sống con người quang cảnh sẽ bớt vắng lặng, cô đơn hơn nhưng thực tế lại không phải vậy. Sự xuất hiện của con người trái lại càng khiến cảnh vật thêm phần heo hút, hoang vắng hơn. Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào dáng “lom khom” của những chú tiều, cái “lác đác” của mấy ngôi nhà ven sông kết hợp các từ chỉ số lượng ít ỏi “vài”, “mấy” khiến cho hình bóng con người đã nhỏ lại càng nhỏ hơn, cuộc sống đã hiu quạnh lại càng hiu quạnh hơn. Bức tranh về một thế giới cô liêu hiện lên rõ hơn bao giờ hết. Nhìn lại cả hai câu thơ ta thấy chúng có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thủy, hữu tình núi, sông, tiều phu, chợ. Thế nhưng những yếu tố ấy khi hợp lại với nhau và khúc xạ qua cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn cước hiu quạnh, heo hút. Tiếp đến, Bà Huyện Thanh Quan đã bộc lộ tâm trạng của mình khi đứng trước đèo Ngang “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Giữa chốn rừng sâu vắng lặng, vang lên tiếng chim cuốc đau lòng não ruột. Đó cũng có thể là thanh âm thật là hay là tiếng lòng trong tâm trạng nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ để nói lên tiếng lòng mình trước cảnh. Tiếng chim kêu làm tăng phần cô quạnh, phải chăng đó là tâm trạng hoài vọng nhớ thương nước nhà? Cái bao la, vô tận của non nước làm chơi vơi bóng hình một mình giữa thiên nhiên, hồn cảnh - hồn người như hòa lẫn vào nhau, làm nỗi buồn da diết bị lắng đọng cùng. “Dừng chân đứng lại trời non nước Một mảnh tình riêng ta với ta” Tiếng lòng non nước thấm thía, không san sẻ buộc nhà thơ thốt lên giãi bày "ta với ta" nghe chua xót. Chỉ ta mới hiểu được lòng ta, sự cô đơn như tăng lên gấp bội. Dù sầu muội như bà Huyện Thanh Quan vẫn cảm nhận được vẻ đẹp non nước dù nơi dừng chân có vẻ hoang sơ, nhưng đã tô lên vẻ đẹp hùng vĩ, bao la của núi rừng. Bài thơ "Qua Đèo Ngang" vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ, vừa gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa quê hương, lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người. Bài văn mẫu số 2 Trong nền văn học hiện đại nếu như chúng ta bắt gặp sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá trong thơ của Hồ Xuân Hương thì chắc hẳn rằng sẽ thấy được sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ “Qua đèo Ngang” tiêu biểu cho phong cách ấy. Bài thơ được sáng tác khi tác giả vào Phú Xuân Huế nhận chức và đi qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, nhớ quê hương và thương cho thân gái nơi đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề, thực, luận kết. Chỉ tám câu thơ nhưng nó đã diễn tả được hết cái thần thái, cái hồn của cảnh vật cũng như của con người khi đứng trước cảnh trời núi hiu quạnh và lòng người man mác như thế này. Hai câu đề gợi lên trước mắt người đọc khung cảnh hoang sơ nơi đèo Ngang “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen lá, lá chen hoa” Không gian và thời gian ở đèo Ngang được tác giả thể hiện qua từ "bóng xế tà". Có thể nói đây là thời gian là cảm xúc trong lòng người dường như nặng nề, gợi buồn, gợi sầu hơn. Trong ca dao, dân ca, chúng ta vẫn bắt gặp thời điểm chiều tả để đặc tả nỗi buồn không biết bày tỏ cùng ai. Mặt trời xuống núi, hoàng hôn sắp bao phủ lấy nơi này. Cảm giác cô đơn, lạc lõng. Cảnh vật thiên nhiên nơi đây dường như quạnh quẽ đến nao lòng. Chỉ có cỏ cây và hoa. Điệp từ "chen" dường như đã làm tăng thêm tính chất hiu quạnh của địa danh này. Hoa lá đang quấn quýt lấy nhau, bám chặt nhau để sống, sinh sôi. “Lom khom dưới núi tiều vài chú Lác đác bên sông chợ mấy nhà” Đến hai câu thực thì mới thấp thoáng hình ảnh con người, nhưng cũng chỉ là "tiều vài chú". Hóa ra chỉ là một vài chú tiều bé nhỏ đi nhặt củi ở dưới chân núi. Mặc dù có sự sống nhưng mong manh và hư vô quá. Với phép đảo trật tự cú pháp ở hai câu thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã một lần nữa nhấn mạnh sự hoang sơ, hiu quạnh của đèo Ngang. Ngoại cảnh đã hòa hợp với râm cảnh người nữ sĩ trong buổi chiều tà nơi đèo hút hút gió. Nữ sĩ đã sử dụng bút pháp miêu tả tượng trưng và ước lệ của thi pháp cổ ngư, tiều, canh, mục kết hợp với cảm hứng đầy thi cảm và sáng tạo. “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” Nghệ thuật đối và đảo ngữ được sử dụng ở phần thực đã tiếp tục được phát huy tác dụng một cách triệt để ở phần luận. Đó là tiếng chim cuốc, chim đa trong bóng chiều tà. Đó là “nhớ nước đau lòng” và “thương nhà mỏi miệng” đã được đặt trong thế đăng đối và hòa hợp. Ý thơ đã thể hiện người nữ sĩ lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm tình. Đây cũng là một nét đặc sắc và nổi bật trong phong cách sáng tác của bà huyện Thanh Quan. Thơ tả cảnh ngụ tình nên nhạc, nên họa đã diễn tả cảnh đèo Ngang lúc hoàng hôn với nỗi niềm thi sĩ làm ta cảm thương, vương vấn. “Dừng chân đứng lại trời, non, nước Một mảnh tình riêng ta với ta” Hai câu thơ kết cuối bài như dồn lại biết bao nhớ thương sâu lắng và dạt dào của người nữ sĩ trong khung cảnh chiều tà. Đứng một mình nơi đèo cao lộng gió trong buổi hoàng hôn, nữ sĩ thấy mình như sống trong tâm trạng lẻ bóng, cô đơn, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang vắng bao la của “trời, non, nước”. Hai chữ “đứng lại” diễn tả một tư thế, một tâm trạng xúc động và bồi hồi. “Ta với ta” là ba chữ đắt giá kết hợp với điệp ngữ láy âm, đặt trong mối tương phản với “trời, non, nước” đã cho thấy cái mênh mang bao la với sự lẻ loi, đơn côi và nhỏ bé của lòng người. Nó gợi lên một sự trống vắng không thể nào kể xiết. "Qua Đèo Ngang" là bài thơ Nôm kiệt tác được viết theo thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật. Bài thơ đã cho thấy phong cách sáng tác của Bà Huyện Thanh Quan. -Mod Ngữ văn biên soạn và tổng hợp-

phân tích bài qua đèo ngang lớp 7